Maddison Elliott
Thông tin cá nhân | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Họ và tên | Maddison Gae Elliott | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Quốc tịch | Úc | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Sinh | 3 tháng 11, 1998 Newcastle, New South Wales, Úc | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thể thao | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Môn thể thao | Bơi | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kiểu bơi | bơi tự do | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Phân loại | S8, SB8, SM8 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Câu lạc bộ | NU Swim | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Huấn luyện viên | Paul Sharman | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
|
Maddison Gae Elliott (sinh ngày 03 tháng 11 năm 1998) là nữ vận động viên bơi lội khuyết tật người Úc. Tại Thế vận hội Người khuyết tật năm 2012 ở London, cô trở thành người đoạt huy chương Paralympic trẻ nhất nước Úc khi chiến thắng huy chương đồng ở 100 m và 400 m bơi tự do nữ ở hạng mục S8. Sau đó, cô trở thành người trẻ tuổi nhất của Úc đoạt huy chương vàng khi cô là một thành viên của đội 4 × 100 m 34 điểm bơi tự do tiếp sức nữ.[1] Cô cũng đoạt được 3 huy chương vàng tại Thế vận hội Người khuyết tật năm 2016 ở Rio.
Maddison Gae Elliott sinh ngày 03 tháng 11 năm 1998 tại Newcastle, New South Wales.[2][3] Cô bị bại não bên phải là kết quả của một cơn đột quỵ ở trẻ sơ sinh, và được chẩn đoán với điều kiện khi cô được bốn tuổi.[2] Ngoài bơi lội, cô tham gia vào môn điền kinh, và đến năm 2010 đạt được 6 giải thưởng theo hạng tuổi.[4] Trong năm 2016, cô đã sống tại Gillieston Heights (ngoại ô Thành phố Maitland), New South Wales, và là một học sinh lớp 12 ở trường Bishop Tyrrell Anglican College. Cô có một người chị là Dimity Elliott.[2][5]
Cô thi đấu bơi lội trong hạng mục S8 (S8, SB7 và lớp SM8 trong bơi lội bao gồm "người đã bị mất hoặc là cả hai tay hoặc một tay [...] hoặc vận động viên với những hạn chế nghiêm trọng hay liệt trong các khớp của chi dưới [6]") Năm 2014, cô được trao tặng Huân chương Úc (Order of Australia).[3]
-
Elliott tại Thế vận hội Người khuyết tật 2012
-
Elliott năm 2012
-
Elliott năm 2012 với huy chương
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ “Golden girls win relay and break world record”. Australian Broadcasting Corporation. ngày 4 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012.
- ^ a b c “Maddison Elliott”. Australia: Australian Paralympic Committee. 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2012.
- ^ a b “Australia Day honours list 2014: in full”. Daily Telegraph. ngày 26 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2014.
- ^ Kelly, Lauren (ngày 11 tháng 11 năm 2010). “Maddison's eyes on Paralympics”. Herald Sun. Melbourne, Australia. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2012.
- ^ “Bishop Tyrrell Students Competing on the Global Sports Stage”. Newcastle Anglican website. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
- ^ IPC Swimming Classification